BÙ LẠCH (BỌ TRĨ) HẠI LÚA: NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG TRỪ HIỆU QUẢ
BÙ LẠCH (BỌ TRĨ) HẠI LÚA: NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG TRỪ HIỆU QUẢ
Trong canh tác lúa, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, bù lạch (bọ trĩ) là một trong những đối tượng dịch hại nguy hiểm nhất ở giai đoạn đầu của cây lúa. Nếu không được kiểm soát kịp thời, chúng có thể gây thiệt hại lên đến 50% năng suất, làm suy giảm năng suất nghiêm trọng. Bài viết này sẽ cung cấp cho bà con các thông tin về bù lạch cũng như và các biện pháp kỹ thuật phòng trừ để bảo vệ năng suất mùa vụ.

Hình 1. Bù lạch hại lúa: Cách nhận diện và phòng trừ hiệu quả
1. TÌM HIỂU VỀ BÙ LẠCH
Bù lạch hay bọ trĩ có tên khoa học là Phloeothrips Oryzae Matsumura (hoặc Stenchaetothrips biformis Bagnall) thuộc họ Thripidae, bộ Thysanoptera. Đây là loại côn trùng kích thước cực kỳ nhỏ, con trưởng thành chỉ dài khoảng 1 - 1,5 mm, màu vàng nhạt, nâu đen hoặc nâu đỏ. Hai đôi cánh hẹp, mang nhiều lông như lông chim trĩ nên còn có tên là ‘bọ trĩ’, xếp dọc trên lưng khi nghỉ.
Vòng đời bù lạch trải qua các giai đoạn chính:
- Trứng: Hình bầu dục, dài từ 0.20 – 0.25mm, màu trắng trong, chuyển sang vàng khi sắp nở, thời gian ủ trứng từ 3 – 5 ngày.
- Ấu trùng: Ấu trùng có 4 tuổi, phát triển từ 6 – 14 ngày. Ban đầu trong suốt, sau vài lần lột xác chuyển dần sang màu vàng nhạt. Khi lớn đủ sức dài khoảng 1mm, hình dạng giống thành trùng nhưng không có cánh. Trước khi hóa nhộng ấu trùng trải qua thời kỳ tiền nhộng từ 2 – 3 ngày, màu nâu đậm. Sau đó sang giai đoạn nhộng từ 3 – 6 ngày.
- Thành trùng: Màu nâu đen hoặc nâu đỏ. Thành trùng cái đẻ khoảng 12 – 14 trứng, nhiều nhất là 25 – 30 trứng. Đa số bù lạch sinh sản theo phương thức đơn tính, tỷ lệ cái/đực thường rất lớn (trên 95%). Tuổi thọ của thành trùng cái từ 15 – 30 ngày. Thường sống thành đàn để chích hút nhựa.

Hình 2. Vòng đời Bù lạch
Tập quán sinh sống và cách gây hại
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003:
- Thành trùng rất linh hoạt, có thể bay một khoảng xa vào ban ngày để tìm ruộng lúa mới. Khi bị khuấy động, thành trùng thường nhanh nhẹn nhảy đi nơi khác lẫn trốn hay rơi xuống đất. Bù lạch thích hoạt động vào những ngày trời râm mát hoặc ban đêm, khi trời nắng chúng thường ẩn trong lá non hay chóp lá cuốn lại. Thành trùng cái thích đẻ trứng ở giữa đám lúa, mạ hoặc cỏ dại xanh tốt.
- Trứng được đẻ vào lá non nhất, ở mặt đối diện với thân cây lúa, một số ít được đẻ trên lá đã mở. Thành trùng cái cắt mô của phiến lá bằng bộ phận đẻ trứng bén nhọn, xong đẻ từng trứng vào các vết cắt, trứng chỉ gắn vào 1/2 mô lá.
- Ấu trùng sau khi nở thường sống tập trung nhiều con trong lá non. Khi lá nở ra hoàn toàn, ấu trùng chuyển vào phần đầu của chóp lá non còn cuốn lại. Với mật số từ 1-2 con trên một cây, chóp lá non có thể bị cuốn lại; 5 con trên một cây, chóp lá có thể bị cuốn từ 1-3 cm và nếu mật số nhiều hơn 10 con trên một cây lá có thể bị cuốn toàn bộ và héo khô. Khi lúa đứng cái, lá ngừng phát triển, một số ấu trùng có thể chui vào bên trong hạt.
- Thành trùng và ấu trùng đều chích hút nhựa lá lúa, nhất là lá non. Lá lúa bị bù lạch gây hại thường có sọc trắng bạc dọc theo gân, chóp bị cuốn lại và bù lạch sống bên trong chóp lá cuốn lại, trời mát mới bò ra ngoài.
- Với đặc tính sinh sống là thường ẩn mình trong chóp lá cuốn lại nên bù lạch chỉ thích tấn công trên các ruộng lúa bị khô, lá lúa cuốn lại. Nếu ruộng đầy đủ nước, lá lúa mở ra, bù lạch không còn chỗ trú ẩn nên dễ bị chết.
2. TRIỆU CHỨNG NHẬN BIẾT
Bù lạch tập trung chủ yếu ở mặt dưới lá non, đọt lúa và bẹ thân để chích hút nhựa.
Triệu chứng nhận diện:
- Lá xuất hiện vệt trắng bạc, khi nhìn xuống ruộng có màu xám bạc đặc trưng
- Lá có biểu hiện cuốn chóp lại giống như bị héo khô dù là buổi sáng sớm
- Lá chuyển sang màu vàng, méo mó và khô dần từ phía chóp lá do một số con tập trung vào những chóp lá bị cuốn và cắn phá
Cây lúa bị mất sức, còi cọc, chậm phát triển, nở bụi kém

Hình 3. Lúa bị Bù lạch gây hại
3. ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH VÀ ẢNH HƯỞNG
Bù lạch phát triển cực mạnh trong điều kiện thời tiết khô hạn, nắng nóng kéo dài. Khi ruộng lúa bị thiếu nước, lá lúa cuốn lại tạo môi trường trú ẩn lý tưởng cho chúng, mật số sẽ tăng nhanh và dễ bùng phát thành dịch nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. Ngược lại, khi ruộng đầy đủ nước, lá mở ra khiến chúng dễ bị tiêu diệt bởi yếu tố môi trường.
Khi tấn công, bù lạch chích hút nhựa liên tục làm cây lúa mất sức, khả năng quang hợp của cây giảm xuống. Điều này dẫn đến cây phát triển chậm, đẻ nhánh kém. Cây lúa rất khó phục hồi nếu bị tấn công nặng ở giai đoạn đầu.
4. BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BÙ LẠCH GÂY HẠI
4.1 Biện pháp canh tác
- Vệ sinh đồng ruộng: dọn sạch cỏ dại xung quanh bờ ruộng vì đây là ký chủ phụ của bù lạch, nhằm loại bỏ nơi trú ẩn của chúng.
- Quản lý nước: duy trì mực nước ổn định (5 – 10 cm), không để ruộng khô hạn. Nếu phát hiện bù lạch, bà con có thể bơm nước ngập ruộng khoảng 2 ngày để rửa trôi và tiêu diệt chúng
- Mật độ gieo sạ: tránh sạ quá dày để ruộng được thông thoáng, hạn chế nơi trú ẩn cho bù lạch tích lũy mật số.
4.2 Biện pháp sinh học
Hệ sinh thái ruộng có các loài thiên địch tự nhiên như ong bắp cày ký sinh giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát dịch hại
4.3 Biện pháp hóa học
Theo Nguyễn Văn Hoan và cộng sự, 2009. Khi mật số bù lạch cao vượt ngưỡng kiểm soát (khoảng 5 – 10 con/lá) gây ảnh hưởng năng suất. Nếu vượt ngưỡng sẽ gây hiện tượng vàng đọt, khô lá và giảm năng suất.
- Sử dụng các loại thuốc chứa hoạt chất như Fipronil, Phenthoate, Indoxacarb, Acetamiprid hoặc các hoạt chất có hiệu quả tốt trong việc diệt trừ bù lạch
- Cách phun: tập trung phun vào mặt dưới lá và đọt non, phun vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát khi bù lạch hoạt động mạnh nhất để tăng khả năng tiếp xúc thuốc
Phục hồi cho lúa: sau khi diệt trừ bù lạch, bà con cần cung cấp dinh dưỡng như bón thêm Đạm và Kali để giúp cây lúa nhanh chóng hồi phục và ra lá mới và vượt qua giai đoạn mất sức.

Hình 4. Giải pháp phòng trừ và phục hồi
KẾT LUẬN
Bù lạch (bọ trĩ) là dịch hại nguy hiểm trên lúa, vòng đời ngắn nhưng sinh sản nhanh, dễ bùng phát mạnh trong vụ Hè Thu. Bà con nên thăm đồng thường xuyên để nhận diện sớm đặc biệt là trong những vụ khô hạn như Hè Thu để phát hiện và xử lý kịp thời tránh ảnh hưởng đến năng suất.
Bài viết liên quan
Đọc thêm các bài viết cùng chủ đề